Most View

Tổng Hợp

  • Hệ Thống Bơm Nước Lên Cao Không Dùng Điện (PAT) Tại Hà Giang

    Hệ thống đường ống áp lực module cấp nước cho vùng cao do các chuyên gia Việt và CHLB Đức thiết kế có gắn cảm biến tự động đo độ đục, mực nước…

    Gần một năm nay Trung tâm dịch vụ công cộng môi trường và cấp thoát nước huyện Đồng Văn (Hà Giang) đã vận hành hệ thống bơm không dùng điện (PAT – bơm kết hợp với tuarbin) để cấp nước cho người dân Thị trấn huyện lỵ Đồng Văn và một số thôn bản lân cận.

    Trạm bơm ở thủy điện Séo Hồ với hệ thống ống dẫn lên cao. (Ảnh: Nhóm nghiên cứu).

    Hệ thống được thiết kế gồm hai tổ bơm tổng công suất lên đến 1.800m3/ngày đêm, một đường ống áp lực dài khoảng 2,5km, một nhóm các bể chứa trung gian trên đỉnh Ma Ú và một hệ thống đường ống cấp nước tự chảy về đến các hộ dân. Lượng nước này đủ cho khoảng 10.000 người với định mức tiêu thụ tiêu chuẩn ở đô thị lên tới 180-200 lít nước/ngày, hoặc tới 20.000 người với định mức tiêu thụ 90-100 lít nước/ngày. Con số đó vượt xa so với tổng số dân hiện nay (kể cả khách du lịch) ở Thị trấn Đồng Văn. Con số này cũng vượt rất xa so với lượng nước tiêu thụ trung bình hiện nay chỉ khoảng 30-40 lít/người/ngày, thậm chí còn thấp hơn nếu là ở các làng bản xa.

    Hệ thống bơm PAT do các nhà khoa học và công nhân Việt Nam (Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản, Trường Đại học Thủy lợi, Công ty HESCO…) hợp tác với các nhà khoa học, chuyên gia CHLB Đức nghiên cứu, lắp đặt thông qua một nhiệm vụ Nghị định thư giữa Bộ Khoa học và Công nghệ (Việt Nam) và Bộ Nghiên cứu và Giáo dục BMBF (CHLB Đức) giao thực hiện.

    Ông Nguyễn Văn Phong, Cán bộ phụ trách kỹ thuật của Trung tâm dịch vụ công cộng môi trường và cấp thoát nước Đồng Văn cho biết, nhờ công nghệ mới nhiều bước trước đây phải làm thủ công nay được cắt giảm. Thay vì mỗi ca có ba người trực, nay chỉ cần hai người. Toàn bộ khâu kiểm tra chất lượng nước (độ trong, độ đục), mực nước… đều được gắn cảm biến và hiển thị thông số trên màn hình. Cán bộ kỹ thuật không còn phải chạy đi xa 500-600 m đường đồi núi để xem có vấn đề gì đang xảy ra với nước đầu nguồn.

    Nhờ công nghệ bơm không dùng điện, nước được đưa từ thủy điện Séo Hồ (độ cao 705 m) lên bể chứa đặt ở Ma Ú (độ cao 1.250 m), sau đó phân phối tới Thị trấn huyện lỵ Đồng Văn và một số xã bản lân cận.

    Các tổ bơm được lắp đặt xong từ cuối năm 2016, chạy thử từ năm 2017, chạy thử toàn bộ hệ thống tháng 3/2019, chính thức khánh thành và bàn giao cho địa phương từ cuối năm 2019. “Từ đó đến nay vận hành ổn định”, ông Phong nói. Người dân được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh, bởi chỉ cần nước đầu nguồn đục, hệ thống bơm sẽ tự động ngừng chạy nhờ các cảm biến được lắp phía đầu nguồn. “Chúng tôi chỉ cần nhìn màn hình trên hệ thống sẽ biết có chuyện gì đang xảy ra với nguồn nước và hệ thống bơm”, ông Phong nói và cho biết khi nước trong, hệ thống sẽ tự động vận hành trở lại.

    PGS. TS Trần Tân Văn, Chủ nhiệm nhiệm vụ cho biết, sở dĩ không cần dùng điện là vì các nhà chế tạo bơm CHLB Đức đã lợi dụng độ chênh áp lực của cột nước để làm quay turbine.

    Thay vì phát ra điện như thông thường ở các nhà máy thủy điện, cột nước được đấu đồng trục trực tiếp với một máy bơm, tuarbin sẽ làm quay máy bơm và đẩy một phần dòng nước lên cao.

    Điểm đặc biệt của hệ thống bơm-tuarbin này là có thể đẩy nước lên rất cao, như trường hợp ở Đồng Văn là gần 600 m, còn trên thế giới đã có nhiều trường hợp đến 900m, thậm chí hơn 1.000 m, trong khi hoàn toàn không phải dùng điện. “Tất nhiên chi phí ban đầu cho một tổ bơm PAT là rất cao so với một máy bơm chạy điện thông thường. Tuy nhiên trong thực tế thì để bơm được nước lên độ chênh cao 600m bằng công nghệ bơm thông thường cũng không phải đơn giản, trong khi tiền điện lại vô cùng lớn”, TS Văn nói.

    Theo đánh giá của các chuyên gia, sử dụng công nghệ PAT giúp tiết kiệm được một nửa chi phí so với phương án làm hồ treo.

    Trong pha 2 của dự án, các nhà khoa học CHLB Đức dự kiến sẽ chuyển giao thêm công nghệ xử lý nước sạch sau bể chứa trung gian trên đỉnh Ma Ú. Ngoài ra họ cũng sẽ thử nghiệm thêm mô hình cấp nước phân tán bằng bơm chạy bằng năng lượng mặt trời.

    Tổ hợp công nghệ bơm PAT cùng với công đoạn xử lý nước sạch tiếp theo và mô hình cấp nước phân tán bằng bơm chạy bằng năng lượng mặt trời có thể nhân rộng ra nhiều địa phương miền núi khác, với kỳ vọng giải quyết căn bản vấn đề nước sạch và vệ sinh môi trường ở các vùng nông thôn miền núi Việt Nam.

    Dự án cấp nước cho Thị trấn Đồng Văn bằng công nghệ bơm PAT đã được Bộ KHCN phối hợp với Ban tuyên giáo Đài truyền hình Việt Nam bình chọn là một trong mười sự kiện KHCN ấn tượng của năm 2019.

    Ông Nguyễn Văn Sơn, Chủ tịch UBND tỉnh Hà Giang bày tỏ mong muốn nhân rộng kết quả của Dự án ra một số khu vực khác của tỉnh Hà Giang, trước mắt là Thị trấn huyện lỵ Mèo Vạc, nơi cũng có các thông số và đặc trưng kinh tế – xã hội – tự nhiên tương tự như Thị trấn Đồng Văn.

    Theo VnExpress

  • Báo Nhật : So Sánh Nông Nghiệp Nhật Và Thế Giới. Nhật Bản Học Được Gì?

    Các vấn đề nông nghiệp trong nước (Nhật) đang thu hút sự chú ý do các vấn đề TPP. 

    Các vấn đề như sự lão hóa của công nhân nông nghiệp do thanh niên rời khỏi nông nghiệp và sự suy giảm tỷ lệ tự cung cấp lương thực được cho là chồng chất. 

    Chúng tôi đã thực hiện các biện pháp như bảo trì pháp lý trên khắp Nhật Bản, nhưng hiện tại chúng tôi không thể nói rằng nó hoàn hảo. 

    Nhật Bản, nơi được cho là có dân số đông và diện tích đất nông nghiệp nhỏ so với nông nghiệp quy mô lớn ở nước ngoài, có thể chiến đấu trên thế giới trong tương lai. 

    Lần này, chúng tôi sẽ so sánh nông nghiệp Nhật Bản với nông nghiệp thế giới và hỏi về nông nghiệp Nhật Bản có thể học được gì

    Nhật Bản là quá muộn trên thế giới! ? Đặc điểm của nông nghiệp Nhật Bản

    Có ba đặc điểm của nông nghiệp Nhật Bản. Đầu tiên là sự hẹp hòi của khu vực đất nông nghiệp. 

    Ngay cả khi so sánh với Hoa Kỳ và Úc, rõ ràng từ bản đồ là đất nước này hẹp. Hơn nữa, Nhật Bản có nhiều rừng và dân số đông, nên có rất ít diện tích dành cho đất nông nghiệp. 

    Xét về diện tích đất canh tác trên mỗi cửa, nó nằm ở hạng thấp hơn ngay cả trên thế giới. 

    Ngoài ra, một trong những đặc điểm là lượng phân bón hóa học cũng là một trong những đặc điểm, nó còn được gọi là nông nghiệp thâm canh vì có một lượng vốn lớn đầu tư vào một khu vực nhỏ. 

    Thứ hai là lão hóa của người lao động nông nghiệp. Phần lớn công nhân nông trại có độ tuổi từ 65 trở lên, điều này gây khó khăn cho những người trẻ tuổi vào. 

    Có rất nhiều người đang tham gia vào nông nghiệp bên lề, và nhiều vấn đề như thiếu người kế nhiệm làm cho nền nông nghiệp Nhật Bản trong tương lai khó chịu. 

    Đất nước coi đây là một vấn đề, và mỗi chính quyền địa phương và liên minh nông nghiệp đang tích cực cải thiện hệ thống đào tạo. 

    Thứ ba là “tỷ lệ tự cung cấp lương thực thấp”. Mặc dù nó chiếm khoảng 40% trong toàn bộ, nhưng khoảng 30% khi tập trung vào các loại ngũ cốc. Đặc biệt là ngô và đậu nành phụ thuộc vào nhập khẩu cho hầu hết mọi thứ.

    Nông nghiệp quy mô lớn là chủ đạo! Đặc điểm của nông nghiệp ở nước ngoài

    Ngay cả khi chúng ta nói ở nước ngoài, có nhiều hoàn cảnh nông nghiệp. Cần lưu ý rằng Mỹ được cho là một nước nông nghiệp lớn. 

    Trong khi nông nghiệp Nhật Bản là nông nghiệp thâm canh dành nhiều vốn trong một khu vực nhỏ, nông nghiệp Mỹ được cho là “nông nghiệp lớn”. 

    Phương pháp canh tác lớn là quản lý một khu vực rộng lớn với một cỗ máy lớn với công việc thủ công ít hơn. 

    Ngoài Mỹ, nó là dòng chính của nông nghiệp quy mô lớn ở châu Âu. Có thể nói đây là một cách rất hiệu quả vì nó có thể sản xuất nhiều sản phẩm nông nghiệp với ít lao động. 

    Đây cũng là một trong những đặc điểm mà chi phí thấp của các sản phẩm nông nghiệp được đóng góp bởi hiệu quả này. 

    Đó là lý do tại sao sản phẩm của Mỹ rẻ hơn sản phẩm trong nước. 

    Trên phạm vi toàn cầu, “vấn đề thực phẩm” đang trở nên nghiêm trọng hơn. 

    Đúng là nhiều quốc gia ở Châu Phi, đặc biệt, phải dựa vào các nước khác để làm nông sản, trái ngược với các nước nông nghiệp lớn của Hoa Kỳ và Châu Âu. 

    Thói quen ăn uống sẽ thay đổi tùy thuộc vào tăng trưởng kinh tế và điều kiện sống, nhưng điều cấp thiết là các quốc gia phải tự túc.

    Những vấn đề với nông nghiệp Nhật Bản là gì? Học hỏi từ nông nghiệp thế giới

    Vấn đề với nông nghiệp Nhật Bản là lượng vốn lớn cho diện tích và chi phí nông sản cao. 

    Vì điều này liên quan đến diện tích đất hẹp, dân số và các vấn đề với nông dân, không phải lúc nào cũng có thể nói rằng tốt hơn là so sánh với các quốc gia trên thế giới. 

    Cần có một cách phù hợp với quốc gia đó và Nhật Bản, nơi có diện tích đất đặc biệt nhỏ, không phải là một ý tưởng tốt để theo Hoa Kỳ. 

    Do đó, Hà Lan thường được so sánh với tình hình nông nghiệp Nhật Bản. 

    Hà Lan được biết đến như một nhà xuất khẩu thực phẩm chỉ đứng sau Hoa Kỳ, mặc dù nó chỉ có một khu vực tương tự Kyushu. Đặc điểm của nông nghiệp Hà Lan là “tập trung vào các mặt hàng cụ thể”. 

    Nó tập trung vào một số sản phẩm nông nghiệp như cà chua và ớt bột, được coi là dẫn đến khả năng cạnh tranh xuất khẩu. 

    Điểm này cũng nhấn mạnh vào những thứ không phải là nông sản thuần túy như cây cảnh và thuốc lá. 

    Khả năng xuất khẩu chúng trên đất liền là một điểm khác mà Nhật Bản không thể bắt chước. 

    Nếu Nhật Bản có thể học hỏi, nó sẽ hiệu quả hơn cho nông nghiệp? 

    Từ thâm canh, nơi bạn đầu tư nhiều vốn vào một khu vực nhỏ, điều quan trọng là lập kế hoạch cho hiệu quả bằng cách kết hợp các điểm tốt của các quốc gia khác.

     

     

  • Nông Nghiệp Hà Lan Đang Hướng Tới Điều Gì ?

    Hà Lan một đất nước xuất khẩu nông nghiệp thứ 2 thế giới với diện  tích đất canh tác nhỏ. Không dừng lại ở đó, Hà Lan đang cố gắng phát triển một nền nông nghiệp thân thiện với môi trường, gần gũi với thiên nhiên.

    Những tán rừng đa dạng trên đảo Barro Colorado, Panama, mang lại sự thể hiện của nhiều loại trái cây khác nhau

    Hầu hết tất cả các doanh nhân nông nghiệp ở Bắc Hà Lan đều áp dụng các biện pháp Đa dạng sinh học đất-nước (BWB). 

    Đây là kết luận của một nghiên cứu của LTO Noord regio West, về tình trạng nông nghiệp bao gồm thiên nhiên trong tỉnh. 

    Tuy nhiên, 61 phần trăm nông dân đã chỉ ra rằng sự không chắc chắn về tài chính là một trở ngại lớn cho việc chuyển đổi.

    Theo khảo sát nông dân Hà Lan có kết quả như sau :

    • 13.3% canh tác theo phương pháp xưa, cũ. Không hoặc ít quan tâm đến thiên nhiên. Nhưng sẽ cố gắng áp dụng nếu được hướng dẫn đầy đủ.
    • 40% cho biết : Thực sự muốn làm nông nghiệp đa dạng sinh học nhưng rào cản lớn nhất là vấn đề tài chính. Nếu được hỗ trợ thì họ sẽ áp dụng ngay và luôn.
    • 20% Cũng thực sự muốn làm nhưng không tin sẽ mang lại hiệu quả tài chính. Nếu có hỗ trợ thì cũng sẽ thực hiện.
    • 8,3% không đồng ý, với một công ty nếu canh tác theo phương pháp đa dạng sinh học là không khả thi. Các công ty thấy không có khả quan về mặt tài chính. Ngay cả khi được hỗ trợ tài chính họ vẫn không chấp nhận.
    • 11,7% không có ý kiến, vì họ không thể đánh giá được việc này. Trong thực tế họ không hiểu về “canh tác tự nhiên” ?

    Qua đó chúng ta thấy Hà Lan đang hướng đến “canh tác tự nhiên” còn gọi là “đa dạng sinh học” hay mô phỏng thiên nhiên.

    Khó khăn để họ có thể vượt qua là bảo đảm được tài chính.

    Áp Dụng Đa Dạng Sinh Học Vào Thực Tế Sẽ Ra Sao

    Tôi cùng một số nông dân ở Việt Nam đã thử áp dụng mô hình này. Quả thực, tôi gặp rắc rối về vấn đề tài chính.

    Bạn đừng nghĩ rằng : đa dạng sinh học trong nông nghiệp không đem lại năng suất . Thực ra, năng suất có thể gần hoặc ngang bằng canh tác sử dụng phân bón và thuốc BVTV.

    Khó khăn thực sự ở đây là thời gian và thu nhập.

    Ví dụ : khi bạn trồng rau bằng phương pháp hữu cơ đa dạng sinh học thì vườn rau của bạn mất ít nhất 30  ngày để thu hoạch . Nhưng dùng phân bón hóa học thì bạn chỉ mất khoảng 25 ngày.

    Nếu sản lượng bằng nhau thì thu nhập của bạn sẽ không bằng. 

    Một điều quan trọng là không phải ai cũng có thể áp dụng tốt đa dạng sinh học để đảm bảo năng suất mà không bị dịch bệnh phá hoại.

    Nhìn nhận chủ quan :

    Nếu nông dân áp dụng được đa dạng sinh học vào nông nghiệp thì có thể thu nhập sẽ cao hơn. Với một số lý do sau :

    • Bớt đi chi phí mua phân bón và thuốc BVTV. Đây là khoảng chi phí khá cao của nông dân.
    • Giảm công thuê, mướn lao động
    • Bảo đảm sức khỏe của người sản xuất
    • Với chiều giảm của 2 chi phí quan trọng trong nông nghiệp thì thu nhập của chúng ta tăng lên.
    • Chi phí khám chữa bệnh trong tương lai của chúng ta sẽ giảm. Đó là một cách tiết kiệm thông minh !

    Nếu chúng ta có thể mô phỏng và đem thiên nhiên vào nông nghiệp một cách thuần thục thì lợi ích mang lại cho chúng ta và cho cộng đồng là không hề nhỏ.

    Khi nguồn khoáng sản tạo ra phân bón hóa học ngày càng cạn kiệt. Dẫn đến, phân bón sẽ tăng giá hằng năm.

    Việc sớm học hỏi và áp dụng đa dạng sinh học vào canh tác là một việc làm đúng đắn và sáng tạo. Mang lại lợi ích lâu dài .