Most View

Tổng Hợp

  • Mặt Khác Của Nông Nghiệp Hữu Cơ

    20 năm từ khi Bộ Nông nghiệp Mỹ thực hiện quy tắc thực phẩm hữu cơ, giúp tăng doanh số từ 8 lên hơn 50 tỷ USD, tuy nhiên thị trường phát triển sai lệch.

    Dưới đây là bài phân tích của hai chuyên gia, Phil Harvey (chủ tịch dự án DKT Liberty- thúc đẩy nông nghiệp hiện đại, bao gồm cả GMO) và Matthew Rees (tổng biên tập tờ Food and Health Facts) xung quanh thực phẩm hữu cơ.

    Thế nào là thực phẩm hữu cơ?

    heo hai vị chuyên gia: Việc đưa ra chứng nhận “USDA Organic” (thực phẩm hữu cơ Mỹ), mục tiêu chỉ đơn giản là củng cố niềm tin vào thị trường thực phẩm hữu cơ đang phát triển nhanh nhưng bị phân mảnh. Ngay chính Dan Glickman, Bộ trưởng Nông nghiệp Mỹ dưới thời chính quyền Tổng thống Bill Clinton, người vạch nền móng cho thực phẩm hữu cơ cũng từng phát biểu: “Hãy để tôi nói rõ một điều. Hữu cơ không phải là một tuyên bố về an toàn thực phẩm, cũng không phải là một phán quyết giá trị về dinh dưỡng hoặc chất lượng”.

    Nhưng thông qua các mánh khóe tiếp thị (và thường gây hiểu lầm), những hiệu ứng hào quang đã phát triển xung quanh thực phẩm hữu cơ. Những người chủ trương ủng hộ nó thường xuyên quảng cáo rằng thực phẩm hữu cơ an toàn hơn, lành mạnh hơn và tốt hơn cho môi trường so với thực phẩm thông thường. Và đó là một lý do khiến nhiều người sẵn sàng trả mức giá cao hơn mà các nhà sản xuất hữu cơ đưa ra, đồng thời các tuyên bố này cũng đã giúp định hình dư luận.

    Một tuyên bố gây hiểu lầm khác là các sản phẩm hữu cơ vốn đã “lành mạnh” hoặc ít nhất là “tương đối lành mạnh” hơn các loại thực phẩm không phải là hữu cơ. Chưa kể còn có nghiên cứu cặn kẽ, đặt ra câu hỏi về lợi ích sức khỏe vượt trội của thực phẩm hữu cơ.

    Các nhà nghiên cứu tại Đại học Stanford đã sàng lọc qua 237 bài báo và tìm thấy rất ít bằng chứng cho thấy thực phẩm hữu cơ tốt cho sức khỏe hơn các loại thực phẩm thay thế thông thường. “Một số người tin rằng thực phẩm hữu cơ luôn tốt cho sức khỏe và bổ dưỡng hơn”, Crystal Smith-Spangler, giảng viên trường Y Stanford và là một trong những tác giả của bài báo cho biết, và chính chúng tôi cũng hơi ngạc nhiên khi không phát hiện ra điều này.

    Các phát hiện của Đại học Stanford lặp lại một đánh giá khác về 137 nghiên cứu được công bố trên tạp chí Dinh dưỡng Lâm sàng Mỹ vào năm 2009 và được ủy quyền bởi Cơ quan Tiêu chuẩn Thực phẩm Vương quốc Anh, cũng đồng quan điểm với nhiều chuyên gia khác khi tổng kết: Hữu cơ và thực phẩm thông thường thì đều là “cung cấp các vitamin, khoáng chất, và carbohydrate”. Ngay cả một trang web tin tức dành cho việc chào hàng thực phẩm hữu cơ cũng thừa nhận rằng “gần như không có đủ (bằng chứng) để đưa ra các tuyên bố phân loại về việc thực phẩm hữu cơ “tốt hơn về mặt dinh dưỡng” so với thực phẩm thông thường.

    Niềm tin sai lầm cùng những huyền thoại về lợi ích sức khỏe của thực phẩm hữu cơ cũng có thể gây hại cho sức khỏe con người. Bằng chứng là việc dán nhãn “hữu cơ” trên bao thuốc lá đã được chứng minh là làm giảm nhận thức về tác hại của chúng.

    Tương tự, một nghiên cứu của hai giáo sư Đại học Michigan cho thấy, một số người tin rằng việc tiêu thụ thực phẩm hữu cơ khiến cho việc tập thể dục trở nên ít quan trọng hơn.

    Chợ hóa chất hữu cơ

    Yếu tố quan trọng quyết định liệu thứ gì đó có đủ tiêu chuẩn là hữu cơ hay không lại là một thứ khá trần trụi có tên “phương pháp sản xuất”.

    Đối với cây trồng, nguồn gốc của hạt giống là chìa khóa – nó phải được trồng theo phương pháp hữu cơ và không thể là sản phẩm của kỹ thuật di truyền (GMO hoặc chỉnh sửa gen).

    Có một cách hiểu phổ biến rằng, thực phẩm hữu cơ được trồng mà không có hóa chất – và các cửa hàng kinh doanh mặt hàng này đã góp phần làm nên ấn tượng này.

    Thực tế là có tới trên 100 loại phân bón và nguyên liệu đầu vào (thuốc trừ sâu, thuốc diệt côn trùng hoặc thuốc diệt nấm) được cho phép trong canh tác hữu cơ ở cả châu Âu lẫn Mỹ.

    Các quy định hữu cơ được thiết kế để thúc đẩy việc sử dụng hóa chất tự nhiên thay vì các quy định tổng hợp.

    Nhưng do nhiều loại hóa chất tự nhiên không kiểm soát tốt sâu bệnh và mặc dù sự vắng mặt của thuốc trừ sâu tổng hợp thường được trích dẫn để ủng hộ các chất hữu cơ.

    Trên thực tế nông dân sản xuất hữu cơ đã được Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) chấp thuận cho sử dụng hàng chục loại hóa chất tổng hợp, từ vacxin cho động vật đến chất dẫn dụ pheromone côn trùng, hoặc cho dùng thuốc trừ sâu không tổng hợp (có thể kém hiệu quả hơn thuốc trừ sâu tổng hợp) để triển khai ở cấp độ cao hơn so với canh tác phi hữu cơ.

    Nông nghiệp hữu cơ có bền vững hơn không?

    Quan điểm này đối với đa số người ủng hộ thực phẩm “tự nhiên” là thực phẩm hữu cơ rõ ràng là tốt hơn cho môi trường so với thực phẩm thông thường. Tuy nhiên ngay cả điều này cũng là vấn đề còn gây nhiều tranh cãi.

    Ví dụ đánh giá về năng suất cây trồng, rõ ràng khi nền nông nghiệp và công nghệ phát triển, có thể làm ra nhiều lương thực hơn trên một diện tích đất ít hơn. Đó là một chiến thắng cho môi trường.

    Nhưng vì các quy tắc quản lý nông nghiệp hữu cơ ngăn cản việc sử dụng một số phương pháp hiện đại, nên cây trồng hữu cơ không thể phát triển hiệu quả và đòi hỏi nhiều đất canh tác hơn để sản xuất một lượng lương thực nhất định.

    Theo một nghiên cứu được công bố trên tạp chí Nature, năng suất hữu cơ thấp hơn 34% so với canh tác thông thường.

    Nhà sinh vật học cây trồng Steve Savage đã xem xét tác động của việc chuyển đổi toàn bộ sản lượng nông nghiệp của Mỹ sang hữu cơ.

    Các phân tích, xuất bản bởi Dự án Genetic Literacy phát hiện ra rằng, để bù đắp cho hiệu quả sản xuất hữu cơ năng suất thấp hơn sẽ đòi hỏi việc phải trồng nhiều hơn thêm tới 100 triệu mẫu – một diện tích canh tác lớn hơn cả bang California…

    Biến đổi khí hậu thì sao?

    Nông nghiệp hữu cơ đặc biệt có vấn đề khi đề cập đến vấn đề biến đổi khí hậu. Một nghiên cứu gần đây đã “đóng sầm cánh cửa hữu cơ” vì thiếu vắng sự đổi mới liên quan đến tác động của biến đổi khí hậu, cũng như các công ty thực phẩm hữu cơ luôn chống lại việc áp dụng các công nghệ mới có thể cắt giảm khí thải độc hại.

    Nhiều người ủng hộ hữu cơ, bao gồm cả các chính trị gia ở Liên minh Châu Âu, quảng bá thứ gọi là “Thỏa thuận Xanh từ nông trại đến bàn ăn (F2F)”, nhằm mục đích chuyển phần lớn đất nông nghiệp châu Âu sang sản xuất hữu cơ trong thập kỷ tới.

    Tuy nhiên các nhà khoa học độc lập cho rằng, đó sẽ là một thảm họa khi dẫn chứng một nghiên cứu vào năm 2019 đánh giá tác động tiềm tàng đối với Xứ Wales một khi đáp ứng các mục tiêu của Thỏa thuận Xanh F2F.

    Cụ thể là muốn đẩy năng suất hữu cơ tăng lên 40% thì cũng tăng lượng phát thải khí nhà kính lên tới 58%.

    Theo đó, thay vì sản xuất đủ để nuôi dân số của mình, các nước châu Âu cần phải bắt đầu nhập khẩu lương thực.

    Điều này đồng nghĩa với việc tăng sản lượng lương thực ở các nước khác – một kết quả có thể dẫn đến việc chặt phá rừng nhiệt đới trên khắp thế giới.

    Chống lại các thành kiến công nghệ

    Rào cản cuối cùng đối với thực phẩm hữu cơ là nó làm gia tăng lo ngại về sự an toàn của các sinh vật biến đổi gen. Tuy nhiên, hơn 90% ngô, bông và đậu nành của Mỹ là cây trồng biến đổi gen.

    Hơn một nửa diện tích trồng trọt GMO hiện đang được sản xuất ở các nước đang phát triển. Không có nghiên cứu đáng tin cậy nào cho thấy, bất kỳ rủi ro nào từ việc ăn thực phẩm GMO, bởi chúng đã được bán ở khắp nước Mỹ từ năm 1994.

    Tính đến nay đã có hơn 150 người đoạt giải thưởng Nobel danh giá đều đã chứng thực sự an toàn của thực phẩm GMO bởi kỹ thuật di truyền giúp bảo vệ môi trường.

    Ngoài ra, các công cụ chỉnh sửa gen như CRISPR còn có thể tăng cường khả năng kháng sâu bệnh, tăng năng suất cây trồng và giảm lượng khí thải liên quan đến canh tác.

    Thực tế thì cây trồng biến đổi gen là chìa khóa để thúc đẩy phát triển nông nghiệp bền vững. Những người chỉ trích thực phẩm GMO bỏ qua rằng, các biến thể biến đổi gen đã cứu nhiều loại cây trồng thực phẩm ở Hawaii (đu đủ), Bangladesh (cà tím) và nhiều loại cây trồng khác đòi hỏi khả năng kháng bệnh và chống chịu sâu bệnh.

    Gần đây một loại khoai tây mới được lai tạo để sản xuất tại châu Phi đã không cần tới thuốc diệt nấm để chống lại bệnh bạc lá, có thể phá hủy tới 60% mùa ở một quốc gia như Uganda.

    Những nỗ lực nhằm làm giảm giá trị của các loại thực phẩm biến đổi gen năng suất cao, kháng bệnh như vậy đã cản trở sự tiến bộ và thịnh vượng cho nông dân châu Phi và châu Á.

     

  • Các Biện Pháp Cụ Thể Để Kiểm Soát Sâu Bệnh

    Sau khi tìm hiểu 4 phần ” Kiểm Soát Sâu Bệnh Hại Theo Phương Pháp Tự Nhiên” chúng ta có cái nhìn rõ hơn về thiên nhiên. Để áp dụng thành công chúng ta cần làm một số việc cụ thể :

    Vệ sinh

    “KHÔNG BAO GIỜ ĐỂ NHỮNG THỨ BỊ NHIỄM SÂU BỆNH Ở XUNG
    QUANH. CỐ GẮNG TẠO THÓI QUEN SẠCH SẼ”

    Vệ sinh sạch sẽ là cực kỳ quan trọng để phòng ngừa sự lây lan của sâu bệnh, đặc biệt là bệnh.

    Đất:

    Trước hết đảm bảo rằng đất ở luống gieo hạt không có những loài gây hại và mầm bệnh. Đất được xử lý đúng trong nhiều năm sẽ không chứa các loài gây hại và mầm bệnh.

    Nhưng nếu đất có nguy cơ có thể phải tiệt trùng bằng cách :

    • Đốt các cành cây trên bề mặt đất đã được làm sẵn (tro giúp làm cho đất phì nhiêu hoặc có thể được sử dụng để kiểm soát sâu bệnh),
    • Tưới nước trộn với lá cây húng quế dại giã ra và trộn vào đất
    • Phơi đất hoặc ủ đất bằng sức nóng mặt trời bằng cách phủ những tấm ni lông lên trên.

    Hạt giống và cây con:

    Cần phải sạch sâu bệnh, nếu không bản thân chúng không những bị sâu bệnh mà còn lây lan sang những cây khác ở trong ruộng.

    Một chiến thuật cũ nay vẫn còn sử dụng là cất giữ hạt giống với phân bò đã đốt hoặc tro củi để hạt giống không bị sâu bệnh khi mang trồng.

    Nếu bệnh dịch lây lan, loại bỏ tất cả những cây và vật bị nhiễm.

    Những thứ này có thể ủ làm phân ủ nếu bảo đảm đủ độ nóng trong đống ủ, nếu không giữ đủ độ nóng thì có thể cho gia súc ăn hay chôn dưới đất.

    Đốt những thứ này cũng có thể giải quyết được vấn đề nhưng có thể là lãng phí những chất hữu cơ giá trị trừ phi tro của chúng được sử dụng để kiểm soát sâu bọ.

    Công cụ:

    Tay và công cụ sử dụng phải được rửa sạch sẽ sau khi loại bỏ những cây và vật bị nhiễm. Nếu không làm như vậy sâu bệnh sẽ có thể lan sang các cây khác. Cũng cần nhớ rằng mầm bệnh của cây có thể bám vào quần áo và giầy dép.

    Nước:

    Nước sử dụng để tưới cây và pha loãng phân chuồng, để phun hoặc pha chế cần phải lấy từ nguồn không bị nhiễm bệnh. Nước đã dùng để rửa tay, rửa dụng cụ và cây hoặc được để lưu lại sẽ là nƣớc bị nhiễm bệnh.

    Chọn các loại giống kháng sâu bệnh

    Chọn giống cây trồng kháng bệnh
    Chọn giống cây trồng kháng bệnh

    PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG TỰ NHÂN GIỮ GIỐNG

    Các cơ quan nghiên cứu đã tạo ra các loại giống kháng các loại sâu bệnh nhất định.

    Tuy nhiên, người trồng trọt có thể gây giống riêng cho mình rất đơn giản bằng cách lấy hạt giống từ những cây khỏe mạnh ở ngoài đồng không bị sâu bệnh.

    Những hạt giống từ những cây này sẽ cho cây phát triển mạnh và cây lớn lên từ những hạt này sẽ có cơ hội phù hợp với môi trường địa phương tốt hơn và kháng sâu bệnh tốt hơn.

    Thực ra, trong quá khứ, thông qua việc quan sát tốt thiên nhiên, những người nông dân truyền thống đã góp phần quan trọng vào việc phát triển các loại giống cây kháng nhiều lọai sâu bệnh.

    Vì hệ thống tự nhiên là hệ thống rất năng động, nó luôn chuyển động nên việc chọn lọc và nhân giống kháng sâu bệnh phải là một qúa trình liên tục

    Nếu không thì những giống kháng sâu bệnh phải rất khó khăn mới tạo ra được sẽ bị mất đi.

    Trong trường hợp nông dân sản xuất nhỏ tự cấp tự túc, việc làm giống tốt nhất là do chính tay họ làm ở trên đồng ruộng của họ.  

    Thời vụ

    “TRỒNG ĐÚNG THỜI VỤ ĐỂ TRÁNH SÂU BỆNH”

    Việc cấy trồng cần phải làm đúng thời vụ để giảm đến mức thấp nhất sự tấn công của sâu bệnh.

    Để làm việc này hiệu quả, người nông dân cần phải biết chu kỳ sống của các loài sâu bọ gây hạinhững điều kiện thuận lợi cho việc lây lan dịch bệnh.

    Ví dụ : các vụ rau trồng vào mùa đông sẽ tốt hơn mùa hè bởi vì rất nhiều loài gây hại và bệnh tật đều ngủ đông hoặc kém hoạt động trong thời tiết lạnh. Loại sâu lớn là tuyến trùng hại rễ sẽ ít hoạt động trong thời gian này.

    Một cách khác để làm tăng sự sống của cây là sản xuất cây con trong những khu vườn ươm được bảo vệ và sau đó trồng chúng ở bên ngoài ruộng khi chúng đã đủ lớn để có khả năng chịu đựng sự tấn công của sâu bệnh.

    Sự phá hoại của ốc sên, sâu ngài đêm, bọ cánh cứng và châu chấu có thể được giảm đến mức thấp nhất bằng cách này.

    Rất nhiều loại côn trùng sau khi nằm trốn trong đất qua mùa đông và mùa xuân, xuất hiện với những trận mưa đầu mùa.

    Sự phá hoại cây mùa hè có thể giảm đến mức tối thiểu bằng cách trồng vụ hè sớm hơn hoặc trồng sau khi mưa một vài tuần.

    Sử dụng bẫy và hàng chắn ngăn côn trùng

    Sử dụng bẫy côn trùng
    Sử dụng bẫy côn trùng

    Cây có thể đóng vai trò làm rào chắn tự nhiên đối với sự di chuyển của các loài gây hại.

    • Bờ dậu ngăn cản rệp vào vườn; một vài hàng ngô có thể bảo vệ vụ đậu không bị rệp vào phá hoại và một hàng cây đậu Hà lan
    • Hoặc đậu leo có thể được sử dụng để bảo vệ cà chua, khoai tây và bắp cải không bị nhện đỏ tấn công.

    Một phương pháp khác là bẫy côn trùng bằng những cây dẫn dụ.

    Cây dẫn dụ có thể là cỏ mọc trong ruộng hay có thể là các loại cây mẫn cảm được trồng thành những hàng xung quanh ruộng.

    Côn trùng thích những cây dẫn dụ này sẽ tấn công phá hoại chúng và không động chạm đến cây trồng chính trong ruộng.

    Những cây bị côn trùng phá hoại sau đó có thể bị nhổ bỏ và làm phân ủ hoặc cho gia súc ăn.

    Ví dụ : rệp bị hấp dẫn bởi cỏ sữa và cây lương thực sẽ được bảo vệ không bị chúng tấn công nếu để một ít cỏ này mọc ở trong ruộng.

    Cây đậu được trồng theo hàng để dẫn dụ xung quanh ruộng trồng bắp cải hoặc bông để bảo vệ những loại cây này không bị nhện đỏ tấn công.

    Sau đó những cây đậu bị sâu bệnh hại này làm thức ăn cho gia súc ăn hoặc làm phân ủ.

    Loại cây này làm mồi lý tưởng vì chúng có ba chức năng: kiểm soát sâu bọ (làm mồi), cải tạo đất (cây họ đậu) và thức ăn cho gia súc hoặc nguyên liệu để làm lớp phủ hay phân ủ.

    Hàng chắn và cây dẫn dụ cũng sẽ tạo ra môi trường sống thích hợp khuyến khích các động vật ăn mồi tới cư trú ở trên ruộng và ăn sâu hại.

    Khuyến khích động vật ăn mồi

    động vật săn mồi

    TRƯỚC HẾT KHUYẾN KHÍCH TĂNG SỐ LƯỢNG ĐỘNG VẬT ĂN MỒI CUỐI CÙNG LÀ KHÔI PHỤC LẠI TRÌNH TỰ TỰ NHIÊN

    Trong những giai đoạn đầu thiết lập trật tự tự nhiên, sẽ thiếu động vật ăn mồi.

    Phương pháp canh tác thông thường hiện nay đã tiêu diệt hầu hết các động vật này và sự phá hủy hàng loạt môi trường sinh sống tự nhiên của chúng.

    Ở những nước phương tây, động vật ăn mồi được gây giống trong những khu trại sản xuất riêng và bán cho nông dân để họ thả vào ruộng của mình.

    Việc này được truyền bá sang châu Phi và các nơi khác nhưng đó là chi phí không cần thiết.

    Hầu hết các loại động vật này chỉ sống được một thời gian ngắn và sau đó chúng bị tiêu diệt ngay ở nơi chúng được thả ra đầu tiên chính bởi các biện pháp canh tác của người nông dân.

    Phương pháp tốt nhất là phải biết cách tạo điều kiện thích hợp để tăng số lượng các loài động vật ăn mồi hiện có tới mức nào đó để chúng có thể đảm đương được nhiệm vụ của mình là kiểm soát được các loài côn trùng gây hại cho cây trồng.

    Việc phục hồi độ phì nhiêu của đất, cải thiện đa dạng cây trồngtránh sử dụng các loại hóa chất trong nông nghiệp là để thiết lập lại trật tự tự nhiên.

    Qua đó làm tăng số lượng các loài động vật ăn mồi cùng với việc tạo ra môi trường sống đa dạng trong các ruộng, các bờ dải đồng mức, ở những vùng đá sỏi không trồng trọt được và ở dọc theo các bờ ruộng.

    Phương pháp thiết lập lại trật tự tự nhiên có lẽ là an toàn nhất để kiểm soát dịch hại để tránh cho việc phán đoán chủ quan liệu loài côn trùng hay động vật này là có ích hoặc không có ích.

    Nhiều tài liệu đã đưa ra danh mục các loài vật có ích để người nông dân có thể tránh tiêu diệt chúng.

    Việc lựa chọn này thường tùy hứng bởi vì một số loài vật ăn côn trùng trong giai đoạn này nhưng lại ăn thực vật ở giai đoạn khác trong chu kỳ sống của chúng.

    Không còn nghi ngờ gì nữa, hầu hết côn trùng đều có ích ở một giai đoạn nào đó.

    Ví dụ : trong một nghiên cứu 86,000 côn trùng xác định trên đồng ruộng, 76,000 là bạn của nhà nông.

    Tất cả côn trùng đều có lợi vì mỗi loại hình thành một phần của chuỗi thức ăn.

    Tuy nhiên có thể có có lợi khi liệt kê những loài được coi là có lợi hơn những loài khác do chúng có vai trò kiểm soát trực tiếp các loài gây hại ăn cây cối hoa màu.

    Những loại thường được xác định là: bọ ăn mồi, kiến, dơi, ong, chim, ong bắp cày, tắc kè hoa, chuồn chuồn, ong màu sắc rực rỡ, bọ kỳ cánh cứng, giun đất, ếch nhái, con tò vò, bọ rùa, thằn lằn, tuyến trùng có ích, bọ ngựa, nhện, và cóc…

    Bước quan trọng nữa nhằm cải thiện và duy trì số lượng động vật ăn mồi là tránh tiêu diệt chúng vì những lý do thiển cận vì đây chính là điều đầu tiên gây nên vấn đề.

    Ví dụ : một người nông dân có thể thấy rằng con chim mồi có thể giết chết gà của anh ta.

    • Thay vì bảo vệ đàn gà mái của mình bằng rào mắt cáo, „làm giả con quạ‟ hoặc che bằng cây, anh ta giết diều hâu và phá tổ và môi trường sống của chúng.
    • Vì vậy số lượng chuột đồng, chuột nhắt và chim ăn hạt mà lẽ ra diều hâu ăn thịt bị tăng lên và ăn lúa ngô của người nông dân cả ở trên đồng và ở trong kho.
    • Kết quả là anh ta và gia đình bị nghèo đói chỉ vì anh ta không suy nghĩ đủ kỹ trước khi hành động. Đây chỉ là một ví dụ nhỏ.

    Trong nhiều thập kỷ qua, thông qua việc cày bừa hàng năm, triệt phá môi trường sống tự nhiên, sử dụng không phân biệt các loại hóa chất trong nông nghiệp và tiêu diệt côn trùng thiếu suy nghĩ bằng nhiều cách khác nhau.

    Chúng ta đã làm đảo lộn sự cân bằng mỏng manh nhưng có lợi của thiên nhiên và nay phải chịu hậu quả.

    TÓM LẠI

    “HÃY ĐỂ THIÊN NHIÊN KIỂM SOÁT DỊCH HẠI”

    Cách tiếp cận thiết thực duy nhất là không tiêu diệt tất cả các loài gây hại mà phải phục hồi sự cân bằng tự nhiên.

    Hãy học từ thiên nhiên cách tăng đến mức tối đa sản xuất lƣơng thực và giảm đến mức thấp nhất sự mất mùa

    Tránh sử dụng thuốc trừ sâu. Chúng là chất độc. Chúng đe dọa sức khỏe con người, xáo trộn trật tự và cân bằng tự nhiên và trong tương lai làm tăng mất mùa.

    • 1. Thay thế hóa chất dùng trong nông nghiệp bằng các Phương pháp tự nhiên.
    • 2. Khuyến khích sinh sản của các loài động vật ăn mồi. Không giết chúng mà tạo cho chúng môi trường sống phù hợp.
    • 3. Bắt chước thiên nhiên bằng cách tạo ra đa dạng thực vật càng nhiều càng tốt.
    • 4. Ít đào xới, tạo lớp phủ bồi và luôn dùng phân ủ. Nền tảng của sản xuất cây trồng là chăm sóc đất. Đất lành mạnh thì sẽ ít có khả năng chứa sâu bệnh ở mức nguy hiểm và sẽ tạo ra những vụ mùa tốt tươi có khả năng chống lại sự tấn công của sâu bệnh.
    • 5. Luôn vệ sinh sạch sẽ. Không tạo điều kiện cho bệnh lan truyền và phát triển. Đó là những cơ sở cho việc quản lý sâu bệnh tốt. Với việc thực hiện những điều này, số lượng và mức độ nghiêm trọng của sâu bệnh tấn công sẽ giảm đi.

    Tuy nhiên có thể chấp nhận được việc dịch hại thỉnh thoảng xuất hiện, đặc biệt là trong những giai đoạn đầu khi người trồng trọt cố gắng phục hồi sự cân bằng tự nhiên.

    Đừng có bị cám dỗ bởi thùng thuốc sâu kia nếu không bạn sẽ làm hỏng tất cả những tiến bộ mà mình đã cố gắng đạt được cho đến nay.

    Thay vào đó nên chọn một trong những Phương pháp tự nhiên, được nêu trong những phần còn lại của cuốn sách này, phù hợp với loại sâu bọ có vấn đề để kiểm soát dịch hại.

    Trừ một vài trường hợp ngoại lệ, những Phương pháp tự nhiên này sử dụng đơn giản, an toàn và chi phí hầu như không có.

    Vấn đề chính cho thành công là sử dụng thậm chí hóa chất tự nhiên chỉ khi khẩn cấp.

    Và khi bạn làm như vậy, tránh tiêu diệt những loài động vật ăn thịt có ích.

    Vì vậy, hãy kiểm tra thường xuyên và phun có lựa chọn. Hãy học cách nhận biết các loài côn trùng có ích và khuyến khích chúng ở lại.

    Ngoài ra, điều quan trọng cần biết rằng việc phát triển bất cứ kỹ năng nào cũng phụ thuộc hoàn toàn vào mức độ mà người nông dân hoặc người làm vườn chăm sóc và tập trung cho phương thức canh tác của mình.

    Quan sát kỹ và chú ý đáp ứng nhu cầu của đất, cây cối và đời sống của côn trùng và chim muông.

    Tất cả phải hài hòa với người trồng trọt và vì vậy thái độ của người trồng trọt là yếu tố lớn mang lại thành công của những nỗ lực của mình trong việc hợp tác với những lực lượng nhạy cảm nhưng rất hùng mạnh đó làm cơ sở cho mọi sáng tạo.

  • Thực Trạng Nông nghiệp HữuCơ Nhật Bản

    Nông nghiệp hữu cơ là gì ? Tại sao nông nghiệp hữu cơ không phát triển mạnh ?

    Tại Nhật vấn đề rau hữu cơ đang được quan tâm . Người ta tự hỏi :” tại sao rau hữu cơ tốt nhưng không được phát triển rộng rãi ở một đất nước phát triển bậc nhất châu Á”

    rau hữu cơ là gì?

    Rau hữu cơ được trồng hoặc canh tác trên một cánh đồng không có thuốc trừ sâu hoặc phân bón hóa học trong hơn 2 năm trước khi trồng (* 1) và “các sản phẩm nông nghiệp đã nhận được” chứng nhận JAS hữu cơ “bởi một tổ chức chứng nhận.

    Nói một cách đơn giản, …… rau hữu cơ = rau đã đạt chứng nhận JAS hữu cơ.

    Rau hữu cơ được yêu cầu phải được dán nhãn “nhãn JAS hữu cơ” này, chẳng hạn như in trên bao bì hoặc dán nhãn dán. Có thể nói, dấu hiệu này là một bằng chứng hữu cơ

    Tại Nhật Bản, thực tế chỉ có 0,22% trong tổng số là một cánh đồng rau hữu cơ

    Gần đây, chúng ta thường thấy sử dụng rau hữu cơ của người Hồi giáo, sử dụng rau hữu cơ, và v.v. Tuy nhiên, ở Nhật Bản, tỷ lệ ruộng hữu cơ ở vùng đất canh tác trong nước chỉ là 0,22% (※ 2). Hơn nữa, tình hình hiện tại là chúng tôi đã bước vào khoảng 0,2% cứ sau vài năm.

    Mặt khác, tại các nước nông nghiệp hữu cơ phát triển, có rất nhiều quốc gia Nhật Bản như Ý 8,6%, Đức 6,1%, Anh 4,0%, Pháp 3,6%, v.v., Canada 1,2%, Mỹ 0,6 . Có thể  thấy rằng Hàn Quốc là 1,0% , 0,4% Trung Quốc và là một trong những quốc gia ít chú trọng đến hữu cơ.

    Lý do tại sao nông nghiệp hữu cơ không tăng ở Nhật Bản là do các nhà sản xuất (nông dân) chịu chi phí và rủi ro

    Ngoài công nghệ canh tác, phải mất rất nhiều chi phí và công sức để có được chứng nhận JAS hữu cơ. Ngoài việc quản lý nhật ký canh tác hàng ngày và phiếu chi tiết nộp cho các tổ chức chứng nhận, còn có những quy định nghiêm ngặt không chỉ đối với các vật liệu không phải là thuốc trừ sâu (phân bón và lưới côn trùng, v.v.) và môi trường xung quanh của các cánh đồng, nhưng nếu số lượng vật phẩm trồng trọt tăng lên, Điều đó cũng làm tăng thời gian và nỗ lực.

    Ngoài ra, chi phí kiểm tra chứng nhận phải được gia hạn hàng năm, và phí đóng dấu và phí trọn gói của nhãn hiệu JAS hữu cơ đều do nông dân chịu. Hơn nữa, do việc sử dụng thuốc trừ sâu hạn chế, sâu bệnh lớn có thể làm giảm hơn một nửa thu hoạch và rủi ro quản lý luôn luôn tồn tại với nhau.

    Do đó, có nhiều nhà sản xuất không nhận được chứng nhận JAS hữu cơ hoặc không gia hạn ngay cả khi họ đã có. Họ thực sự phát triển bằng hoặc cao hơn canh tác hữu cơ. Đây là một trong những lý do tại sao tỷ lệ hữu cơ trên tổng sản phẩm nông nghiệp ở Nhật Bản chỉ là 0,2%.

    Nông nghiệp hữu cơ phát triển và khác biệt ở Nhật Bản

    Ở một số nước châu Âu đã coi canh tác hữu cơ là chính sách quốc gia của mình, nông sản hữu cơ được đánh giá là có các giá trị khác ngoài “an toàn” và “cứu trợ” và trợ cấp được trao cho nông dân thực hiện canh tác hữu cơ, v.v. Có một hệ thống Nó cũng được đặc trưng bởi sự quan tâm và hiểu biết cao.

    Tập đoàn Tanee (nhà sản xuất của hiệp hội bảo vệ vùng đất ở tỉnh Aichi), người đã đến Đức trong khóa đào tạo hữu cơ trước đây, ông Toshio Tsuda, đã rất ngạc nhiên khi thấy rau hữu cơ được bán tại các cửa hàng.

     ”Các loại rau và rau bị côn trùng cắn, có hình dạng bất thường được bán như bình thường. Hỏi nhân viên cửa hàng nếu đây là sản phẩm” “Đây là trồng hữu cơ. Ở Nhật Bản, bắt buộc phải có hình dạng đẹp giống như canh tác chung. Để bán nông nghiệp hữu cơ cho công chúng ở Nhật Bản, cần phải có côn trùng cắn và vẻ đẹp ngoại hình.

    Chợ Rau ở Đức

    Ở Nhật Bản ngày nay, góc bán rau hữu cơ, hiếm khi thấy ở các siêu thị nói chung. Ngay cả khi có nhiều mặt hàng như khoai tây và cà rốt bị hạn chế. Vì rau hữu cơ có xu hướng đắt tiền, có nhiều cửa hàng không bán.

    Nông dân không có lượng khách hàng giá cố định, chẳng hạn như Giao hàng Daichi, có thể mất thời gian và rủi ro, và có thể nói rằng chứng nhận JAS hữu cơ ít có tác dụng.

    Nhóm nghiên cứu làm đất nhằm bảo vệ môi trường và nông nghiệp bền vững

    Trong số các nhà sản xuất (hộ nông dân) của hiệp hội bảo vệ trái đất, có những nhà sản xuất không nhận được chứng nhận JAS hữu cơ ngay cả khi họ được trồng mà không có thuốc trừ sâu. Tuy nhiên, Daichi đã thiết lập “tiêu chuẩn sản xuất và tiêu chuẩn xử lý” của riêng mình để hỗ trợ sản xuất nông nghiệp, chú trọng bảo vệ môi trường, ngay cả khi chưa đạt được chứng nhận JAS hữu cơ.